This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Sunday, December 31, 2000

Kiểm soát tốt huyết áp:Giảm đáng kể các biến chứng tim mạch

Tăng huyết áp (THA) là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ một cách liên tục (lâu dài, suốt đời). THA bản thân nó lại là một nhân tố nguy cơ thiết yếu nhất của các bệnh lý tim mạch như bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim, bệnh lý mạch máu não, bệnh động mạch ngoại biên, phình tách động mạch chủ,... nên điều trị THA ngoài việc giúp đưa con số huyết áp vào mức thông thường còn làm giảm được nguy cơ bị các biến chứng nêu trên.

Người bệnh tăng huyết áp cần kiểm tra huyết áp thường xuyên.

Huyết áp chỉ tiêu cần đạt là dưới 140/90mmHg, nếu như bệnh nhân bị tiểu đường thì con số huyết áp tiêu chí được khuyến cáo bởi Hiệp hội Tim mạch châu u (ESC) năm 2013 là dưới 140/85mmHg, người có tuổi có mức huyết áp tâm thu ≥ 160 mmHg nên được điều chỉnh về mức khoảng 140-150mmHg 1 cách từ từ, tránh thay đổi đột ngột. Tuy nhiên, căn cứ theo từng bệnh cảnh và cơ địa bệnh nhân cụ thể, người thầy thuốc sẽ đưa ra phương thức điều trị hợp lý nhất cho người bệnh.

Các biện pháp trảo đổi lối sống: Đây là điều trị không thể thiếu mà mọi bệnh nhân cần được thực hiện để đạt được huyết áp mục tiêu và giảm số thuốc cần dùng. Các biện pháp đó là:

- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng. Ăn nhạt: Dưới 5-6g muối/ngày; Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi; Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no.

- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng - Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90cm tại nam và dưới 80cm tại nữ.

- Hạn chế uống rượu, bia.

- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào.

- Tăng cường hoạt động thể lực tại mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ nhẹ nhàng hoặc vận động tại mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 - 60 phút mỗi ngày.

- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý.

- Tránh bị lạnh đột ngột.

Cần luyện tập với mức độ vừa phải.

Điều trị THA bằng thuốc: Có phần lớn loại thuốc không như nhau có tác dụng điều trị giúp hạ huyết áp. Mỗi thuốc này có những ưu nhược điểm riêng và phù hợp với từng đối tượng người bệnh khác nhau. Người bệnh cần được khám tổng thể và đo huyết áp tại các cửa hàng y tế để được bác sĩ đánh mức chi phí tổng thể các nhân tố nguy cơ, áp dụng phác đồ điều trị phù hợp và giải đáp vào đánh tráo lối sống, cách dùng thuốc và các tác dụng phụ của thuốc hạ áp.

Các nhóm thuốc chính sử dụng để điều trị THA gồm có:

- Thuốc ức chế men chuyển

- Thuốc ức chế thụ thể AT1 của Angiotensin II

- Thuốc lợi tiểu

- Thuốc chẹn kênh canxi

- Thuốc chẹn beta giao cảm

Căn cứ về mức độ THA, về cơ địa, tuổi và các bệnh phối hợp khác trên từng người bệnh mà người thầy thuốc sẽ quyết định lựa chọn loại thuốc nào (đơn trị liệu hay phối hợp thuốc hạ áp) để có thể đạt hiệu quả điều trị cao nhất và hạn chế tối đa các tác dụng không mong muốn của thuốc.

Ngoài việc theo dõi thường xuyên con số huyết áp, người bệnh cần được định kỳ kiểm tra một số xét nghiệm như: phân tích nước tiểu; xét nghiệm sinh hóa máu; xét nghiệm vào huyết học... nhằm đánh giá tổng thể và chi tiết hơn về THA.

Các biện pháp tích cực trảo đổi lối sống chính là những biện pháp để bộ phận THA ở người trưởng thành. Nâng cao tiếp nhân thức và hiểu biết về bệnh THA, biến chứng của THA và các nhân tố nguy cơ tim mạch khác... sẽ giúp mỗi chúng ta bộ phận chống và điều trị thành công THA.

Chương trình PCTHA - Viện Tim mạch Quốc gia

Chớ coi thường cao huyết áp tuổi trung niênChớ coi thường cao huyết áp tuổi trung niênPhát hiện protein gây nâng cao huyết ápPhát hiện protein gây nâng cao huyết ápNhững lưu ý khi dùng huyết áp kế điện tửNhững lưu ý lúc sử dụng huyết áp kế điện tử

 

Tuyệt chiêu ăn lẩu không lo bị nóng trong

Những fan cuồng của món lẩu có thể thỏa thích ăn uống mà không lo bị nóng nhờ mẹo nhỏ như uống sinh tố trước bữa ăn, chọn nhiều rau, đậu phụ...

 

 

WHO:Chủng Ebola ở Congo khác với virút gây dịch Ebola tại Tây PhiWHO:Chủng Ebola ở Congo khác với virút gây dịch Ebola ở Tây PhiHoa hậu châu Á - Thái Bình Dương bị truất ngôi yêu cầu được xin lỗiHoa hậu châu Á - Thái Bình Dương bị truất ngôi đề nghị được xin lỗiCặp đôi gần cưới gặp nạn trong vụ tai nạn ô tô tại Lào CaiCặp đôi sắp cưới gặp nạn trong vụ tai nạn ô tô tại Lào Cai

 

(Theo ione.net)

Rối loạn ngưng thở khi ngủ

Việc điều trị hiệu quả và kịp thời sẽ giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch cũng như tiết kiệm biến chứng tim mạch.

Giữa SDB và bệnh tim mạch (Cardiovascular Disease - CVD) có liên quan với nhau. SDB được xác định là nguyên do của tăng huyết áp, suy tim sung huyết (Congestive Heart Failure - CHF), đột qụy và bệnh động mạch vành (Coronary Artery Disease - CAD). Thêm về đó, những nghiên cứu sắp đây cho thấy điều trị SDB có thể làm giảm huyết áp và cố gắng chức năng tim mạch.

Bệnh lý tim mạch thường là những bệnh lý mãn tính, gây tàn phế và có nguy cơ tử vong cao, việc điều trị dựa trên việc kiểm soát các nhân tố nguy cơ. Rối loạn thở khi ngủ thường kết hợp với các chứng bệnh tim mạch, từ nâng cao huyết áp đến suy tim, và bác sĩ càng ngày Quan tâm tới điều trị rối loạn thở khi ngủ.

Rối loạn ngưng thở khi ngủ là gì?

Rối loạn ngưng thở lúc ngủ (SDB) là những rối loạn liên quan đến hệ hô hấp khi ngủ, bao gồm ngưng thở tắc nghẽn (Obstructive Sleep Apnea - OSA), ngưng thở trung ương (Central Sleep Apnea - CSA) và những dạng ngưng thở khác. Ngưng thở được định nghĩa là lúc không có luồng hơi thở trong ít nhất 10 giây. Dạng rối loạn thở lúc ngủ phổ biến đặc biệt ngưng thở tắc nghẽn.

Trong ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ, đường thở trên xẹp lại làm tắc nghẽn 1 phần hoặc hoàn toàn đường thở khi ngủ đồng thời có hô hấp gắng sức. Giảm thở (giảm không khí) tương tự như ngưng thở, nhưng thay vì hoàn toàn không có luồng hơi thở, trong giảm thở thì luồng hơi thở bị giảm (thở chậm, thở nông) trong vòng 10 giây hoặc hơn, kèm theo hiện tượng giảm bão hòa oxy ít nhất 4%.

Ngưng thở trung ương là khi không có luồng hơi thở và cũng không có hô hấp gắng sức. Khi vừa có ngưng thở tắc nghẽn, vừa có ngưng thở trung ương thì thường được gọi là ngưng thở hỗn hợp.

Một dạng rối loạn thở nhất là phổ biến tại bệnh nhân tim mạch là nhịp thở Cheyne - Stokes (Cheyne-Stokes respiration - CSR). Đặc điểm của nhịp thở này là ngưng thở trung ương hoặc giảm thở, sau đó là nhịp thở sâu và nhanh, luân phiên nhau theo chu kỳ. CSR dẫn đến giảm bão hòa oxy, tăng hoạt động thần kinh giao cảm, loạn nhịp tim.

Triệu chứng và hiện tượng ngưng thở tắc nghẽn

- Ngáy.

- Thở đứt quãng lúc ngủ.

- Buồn ngủ vào ban ngày.

- Nhức đầu vào buổi sáng.

- Tăng huyết áp.

Ngưng thở tắc nghẽn lúc ngủ và bệnh tim mạch

Ngưng thở và giảm thở dẫn đến giảm bão hòa oxy và tăng carbon dioxide trong máu. Khi lượng carbon dioxide trong máu tăng đến một mức nhất định, cơ thể sẽ nỗ lự tìm cách để thở, gây nên hiện tượng vi thức giấc và thở thông thường trở lại. Trong lúc ngưng thở, hệ thần kinh giao cảm gia tăng, dẫn tới loạn nhịp tim và làm nâng cao huyết áp. Ngưng thở được xem là nguyên do làm tăng huyết áp, liên quan tới suy tim sung huyết (CHF), bệnh động mạch vành (CAD) và rung nhĩ (Atrial Fibrillation - AF). Hậu quả huyết động lực học của OSA bao gồm nâng cao huyết áp, tăng áp động mạch phổi.

Rối loạn ngưng thở khi ngủ và nâng cao huyết áp:

80% bệnh nhân tăng huyết áp kháng trị bị rối loạn thở khi ngủ.

SDB gây ra áp lực tim mạch kéo dài, dẫn tới nâng cao huyết áp suốt ngày và đêm.

Người có OSA từ nhẹ đến trung bình có nguy cơ tăng huyết áp cao gấp đôi, người có OSA nặng thì nguy cơ nâng cao huyết áp cao gấp 3 người không bị OSA.

Điều trị hiệu quả SDB đã được chứng minh làm giảm huyết áp rõ rệt trong khi ngủ cũng như lúc thức giấc.

Rối loạn ngưng thở và suy tim sung huyết (CHF):

73% bệnh nhân suy tim sung huyết có rối loạn thở lúc ngủ

SDB phổ biến tại bệnh nhân suy tim vừa và nặng, làm bệnh tim mạch tiến triển, ảnh hưởng xấu đến kết quả điều trị và cả làm tăng tỉ lệ tử vong.

Các nghiên cứu đã chứng minh điều trị SDB hiệu quả sẽ giúp nỗ lự chức năng tim (phân suất tống máu thất trái, LVEF-left ventricular ejection fraction) và làm phì đại tim (kích thước cuối tâm thu thất trái, LVSED-left ventricular end-systolic dimension).

Rối loạn ngưng thở và bệnh động mạch vành (CAD):

Khoảng 30% bệnh nhân động mạch vành bị rối loạn thở lúc ngủ.

Điều trị ngưng thở tắc nghẽn tại bệnh nhân động mạch vành giúp làm giảm xảy ra các biến cố tim mạch mới (ví dụ tử vong, nhập viện, tái thông mạch), và làm nâng cao khoảng thời gian giữa các biến cố đó.

Rối loạn ngưng thở và rung nhĩ (AF):

Ngưng thở tắc nghẽn ảnh hưởng đến khoảng 50% số bệnh nhân rung nhĩ.

Bệnh nhân rung nhĩ được điều trị CPAP hiệu quả sẽ có nguy cơ rung nhĩ tái phát thấp hơn bệnh nhân không được điều trị OSA.

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

Tăng huyết áp: cảnh giác với đột quỵTăng huyết áp: cảnh giác với đột quỵTrinh sát hình sự đặc nhiệm bắt gọn vụ tàng trữ trái phép ma túyTrinh sát hình sự đặc nhiệm bắt gọn vụ tàng trữ trái phép ma túyVắc xin Ebola sẽ sẵn sàng về tháng 11 tớiVắc xin Ebola sẽ sẵn sàng về tháng 11 tới

Kháng sinh có clarithromycin gây nguy cơ tử vong

Viện Nghiên cứu quốc gia Serum tại Copenhagen (Đan Mạch) vừa cho biết, việc dùng kháng sinh clarithromicyn có thể dẫn đến nguy cơ tử vong cao hơn 76% so với việc dùng penicillin V. Các nhà nghiên cứu đã phân tích số liệu từ hơn 5 triệu đợt điều trị kháng sinh tại bệnh nhân độ tuổi từ 40 - 74 chỉ cần khoảng từ 1997 - 2011. Trong số các bệnh nhân, hơn 160.000 người sử dụng clarithromycin, 590.000 người dùng roxithromycin và 4,4 triệu người dùng penicillin V.

Kết quả cho thấy sự khác biệt vào nguy cơ tuyệt đối là 37 trường hợp tử vong vì bệnh tim trên 1 triệu đợt điều trị bằng clarithromycin và nguy cơ này cũng chấm dứt lúc đợt điều trị kết thúc.

Các nhà khoa học cho biết clarithromycin và roxithromycin là kháng sinh thuộc nhóm macrolid có tác động tới hoạt động điện của cơ tim và được cho là làm tăng nguy cơ gây ra các khiếu nại nhịp tim, có thể gây tử vong.

Minh Khuê (Theo The BMJ, 9/2014)

Tạo van tim cho trẻ nhỏ từ tế bào daTạo van tim cho trẻ nhỏ từ tế bào daGiảm thời gian ngồi - bí quyết kéo dài tuổi thọGiảm thời gian ngồi - bí quyết kéo dài tuổi thọStress - Nguyên nhân cần thiết gây bệnh đái tháo đường týp 2Stress - Nguyên nhân nhu yếu gây bệnh đái tháo đường týp 2

 

Tự kỷ

Hội chứng tự kỷ tuy đã không còn xa lạ nhưng có thể nó vẫn chưa thực sự sắp gũi với nhiều ông bố bà mẹ. Hậu quả là còn nhiều trẻ tự kỷ bị chẩn đoán muộn hoặc không được can thiệp rất tốt khiến cho trẻ khó hòa nhập cộng đồng.

Ở nước ta hiện chưa có số liệu thống kê nhưng trên toàn cầu về thập kỷ 80 của thế kỷ XX là một – 2 trẻ tự kỷ/10.000 trẻ, thập kỷ 90 là 3- 4 /10.000, năm 2001 – 2002 là 1/165, năm 2008 – 2009 là 1/110, riêng ở Mỹ cứ 50 gia đình thì có một gia đình có con bị tự kỷ. Giải thích về sự gia nâng cao này ThS. Quách Thúy Minh, Trưởng khoa Tâm bệnh Bệnh viện Nhi Trung ương cho rằng đó là do tiếp nhân thức của xã hội về rối loạn tự kỷ đã tăng, mặt khác tiêu chuẩn để đánh giá, chẩn đoán tự kỷ đã được mở rộng hơn. Nếu trước đây những trẻ bị tự kỷ nhẹ thường bị bỏ sót thì nay đã được chẩn đoán.

Về nguyên do gây ra hội chứng tự kỷ là do biến đổi cấu trúc não. Có rất nhiều yếu tố gây ra sự biến đổi này như bất thường gen, các chấn thương xảy ra trong quy trình người mẹ mang thai, sinh nở… Ý kiến cho rằng con tự kỷ là do bố mẹ ít quan tâm, trò chuyện là sai. Đây chỉ là một nhân tố xúc tiến làm cho hội chứng này phát sinh, phát triển.

 Giờ sinh hoạt tập thể tại 1 lớp học dành cho trẻ tự kỷ.
Nhiều trẻ phát hiện muộn, can thiệp chưa tốt

Hiện nay các thông tin liên quan tới tự kỷ có khá nhiều trên mạng internet, các website, các câu lạc bộ, các địa chỉ chẩn đoán, tư vấn, can thiệp cho trẻ tự kỷ cũng không phải hiếm hoi. Thế nhưng vẫn còn khá nhiều người không cho con em mình đi khám sớm, hoặc điều trị đến nơi tới chốn.

Trường hợp của cháu Nguyễn Thanh N., 31 tháng tuổi, ở Lạng Sơn hiện đang điều trị ở Khoa Tâm bệnh Bệnh viện Nhi Trung ương là một ví dụ. Hiện cháu không nói được, giao tiếp kém, không nhìn vào mắt người đối thoại, khuôn mặt ít biểu lộ tình cảm. Khi sinh hoạt lớp cháu không tham dự nghe cô giáo nói, không tham dự về các trò chơi tập thể của lớp, chỉ ngồi và nhìn đi đâu. Theo các bác sĩ, cháu N. bị tự kỷ tại mức độ tương đối nặng, đòi hỏi sự can thiệp tích cực chỉ cần khoảng khá lâu.

Mẹ cháu, chị Nguyễn Thị L., 38 tuổi, 1 dược sĩ làm việc ở Trung tâm y tế dự bộ phận TP. Lạng Sơn cho biết: “ Cháu là con gái thứ 2 trong gia đình, chị cháu hiện đang học lớp 7 và hoàn toàn khỏe mạnh, bình thường. Trong quá trình mang thai và sinh nở cháu đều bình thường, cháu sinh ra nặng 3,7kg. Hàng ngày cháu tại với người giúp việc, tôi đi làm cả ngày tối mới về. Cũng do bận công việc nên tôi không có rất nhiều thời gian chơi với cháu. Khi được 12 – 13 tháng cháu cũng bập bẹ như những trẻ khác. Khi được 17 – 18 tháng trong một lần đi khám họng ở bác sĩ nhi của 1 bộ phận khám tư, tôi có nói với bác sĩ về việc chậm nói của cháu nhưng bác sĩ bảo không sao, cháu hoàn toàn bình thường, chắc chỉ chậm nói tí thôi. Sau đó tôi cũng thấy cháu có ít nhiều tiến bộ, cháu tỏ ra biết hơn một chút nhưng vẫn chưa nói được. Mãi tới sắp đây qua tìm hiểu trên mạng internet tôi mới cho cháu xuống đây khám và điều trị vì ở TP.Lạng Sơn không có giáo viên hay trung tâm nào dạy cho trẻ tự kỷ.”

Cháu trai H., 31 tháng tuổi, tại Quảng Ninh, là một bé trai bụ bẫm, khỏe mạnh, nét mặt khôi ngô, tuấn tú, nước da trắng hồng, đôi mắt đen láy. Cháu là con trai đầu, là cháu đích tôn trong nhà. Chị M., 28 tuổi, mẹ cháu tâm sự: “Khi cháu được hai tuổi, em thấy cháu vẫn chưa nói được, gọi thì không quay lại, cháu tỏ ra thờ ơ với mọi người. Em có nói với bà nội cháu, là hiệu trưởng một trường mầm non của tỉnh đưa cháu đi khám nhưng bà cứ khẳng định cháu hoàn toàn bình thường chỉ chậm nói thôi. Bà bảo nếu em cứ quyết tâm cho con đi khám chỉ để khắc phục vấn đề tư tưởng. Sau này có bận đi khám em đưa cả bà nội cùng đi khi đó bà mới tin. Con có làm sao người mẹ nào chả buồn lòng, đây cháu lại mắc chứng nan y này. Đi đâu, ai hỏi có dám nói con bị tự kỷ đâu. Xã hội hầu hết vẫn miệt thị, chê bai. Em chỉ dám nói là con bị rối loạn chức năng ngôn ngữ. Em mong cả gia đình cùng với em tích cực chữa trị cho cháu, mong mọi người ai có thông tin gì mới vào tự kỷ cùng chia sẻ.”

Trường hợp của cháu trai Q.A, tuy đã 10 tuổi nhưng vẫn không học xong lớp 1, mặc dù cháu phát triển hoàn toàn bình thường, cháu vẫn nói được, cháu đang được điều trị từ vài tháng nay ở Trung tâm Lucky Duck, xóm Ké, thôn 7, Phú Cát, Quốc Oai, Hà Nội do TS. Trần Thị Thu Hà, nguyên Trưởng khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Nhi Trung ương làm giám đốc. Trong giờ chơi xếp hình cùng bạn đọc trong lớp Q.A xếp đẹp và khéo léo nhất, trí tưởng tượng của cháu khá phong phú. Và hầu hết trường hợp, có cháu đang nói tự nhiên không nói được nữa, đi khám mới phát hiện bị tự kỷ. Có cháu lại được phát hiện sớm nhưng gia đình chủ quan bỏ điều trị đến khi nặng hơn mới quay lại chữa tiếp khiến việc điều trị trở thành khó khăn và kéo dài hơn…

Can thiệp thế nào?

ThS. Quách Thúy Minh cho biết tự kỷ là 1 rối loạn mà hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu duy nhất thuốc điều trị triệu chứng. Khi trẻ bị tự kỷ thường có các bệnh lý kèm theo như tăng động, động kinh, rối loạn giấc ngủ, rối loạn lo âu, lo âu ám ảnh, ám ảnh sợ… Các cháu tự kỷ thường sống thu mình, mặc cảm, khó hòa nhập xã hội. Hiện tự kỷ chưa chữa khỏi được. Chỉ có thể giúp trẻ hòa nhập xã hội. Độ tuổi can thiệp tích cực đặc biệt từ hai -3 tuổi, sau 3 tuổi việc can thiệp càng ngày phát triển thành khó khăn, tỉ lệ thuận với tuổi của trẻ. Kết quả điều trị phụ thuộc về mức độ nặng của tự kỷ, khả năng trí tuệ trẻ, phương pháp cũng như quy trình dạy dỗ.

TS. Trần Thị Thu Hà giới thiệu vào Chương trình đặc biệt Smart kid – Bé thông minh. Theo TS. Hà trẻ tự kỷ không những được can thiệp để có thể nói được, hòa nhập được với xã hội mà còn phải phát triển trí tuệ mà Chương trình Bé thông minh chính là một công cụ hữu hiệu giúp các bé trong khiếu nại này.

Hiện nay tuy đã có những phương pháp chữa trị cho trẻ tự kỷ như ôxy cao áp, châm cứu, lọc các kim loại nặng, chính sách ăn… nhưng theo các chuyên gia nước ngoài thì liệu pháp hành vi vận dụng vẫn là phương pháp can thiệp có hiệu quả nhất, có chứng cứ khoa học rõ ràng nhất. Những phương pháp khác chỉ là xu thế đang được các nhà khoa học tìm kiếm. Hiện Khoa Tâm bệnh Bệnh viện Nhi Trung ương áp dụng liệu pháp này, nhất là chú trọng phương pháp dạy trẻ giao tiếp bằng tranh.

Phương pháp dạy trẻ tự kỷ chủ yếu bằng tâm lý và giáo dục. Các bậc cha mẹ cần được học hỏi cách dạy trẻ từ các nhà chuyên môn, sau đó cùng phối hợp tích cực dạy con ở nhà mà không nên có tâm lý mong đợi ai thay mình dạy con được. Cần kiên trì dạy trẻ mọi nơi mọi lúc, nhằm giúp trẻ có thể tự lập dần dần và hòa nhập về cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.

Để chữa trị được cho trẻ tự kỷ không chỉ riêng ngành y tế mà là quy trình phối kết hợp của 5 chuyên lĩnh vực khác nhau: bác sĩ nhi khoa, cán bộ tâm lý, cán bộ phục hồi chức năng, giáo viên mầm non và cán bộ xã hội.

Vẫn còn nhiều bác sĩ do không cập nhật được thông tin vào hội chứng tự kỷ nên không chẩn đoán được hoặc bỏ sót, hoặc nhầm giữa tự kỷ với tăng động và các bệnh lý khác.

Hiện nay khu vực phía Bắc, không phải tỉnh nào cũng có địa chỉ cho trẻ tự kỷ, vì vậy nhiều trẻ phải đi trị liệu tại xa, tốn kém nhiều, cha mẹ phải bỏ việc để đưa con đi chữa. Xã hội còn thiếu các trường lớp, các địa chỉ cho trẻ tự kỷ. Vì vậy các bậc phụ huynh cũng rất mong Nhà nước để ý hơn nữa trong việc đào tạo thêm nhiều giáo viên giáo dục chuyên biệt, mở thêm các lớp đặc biệt trong trường bình thường để các cháu tự kỷ có thể theo học ngay ở địa phương mình.

Mai Hương

Giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em

Thiên chức của người phụ nữ là được làm vợ, làm mẹ. Truyền thống của các bà mẹ Việt Nam đều nguyện vọng nuôi con bằng chính dòng sữa của mình, đó là 1 tập quán rất tốt và đúng khoa học. Trong những năm qua, nhiều thông tin quảng cáo vào các chất bổ sung về sữa làm cho trẻ phát triển, thông minh cùng với nhận thức chưa đúng của một số phụ nữ trẻ, nhiều gia đình có điều kiện đã coi sữa công thức có thể thay thế được sữa mẹ. Việc sử dụng sữa công thức đã làm cho trẻ từ chối sữa mẹ, khi trẻ đã quen các bà mẹ phải mua cho con, dù mức chi phí sữa không hề rẻ, nhất là thời kỳ bão mức giá như hiện nay. Nhiều bà mẹ than phiền và thực sự khó khăn lúc trẻ ốm, trẻ không chịu ăn sữa công thức, trong khi đó sữa mẹ lại không có do việc lạm dụng sữa ngoài. Đồng thời các bà mẹ cũng than phiền đã đánh tráo nhiều loại sữa mà tình trạng dinh dưỡng của con không được cải thiện. Sự hy vọng về sữa theo các thông tin PR đã trở nên sự thất vọng cho các bà mẹ. Các nhà dinh dưỡng khuyên các bà mẹ không có thực phẩm, thức ăn nào thay thế được sữa mẹ vì vậy duy trì và bảo về nguồn sữa mẹ là rất nhu yếu và quan trọng.

Vì sao sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ em?

Khi cai sữa cho trẻ cần chú ý:

Không cai sữa quá sớm, lúc chưa đủ thức ăn thay thế hoàn toàn sữa mẹ.

Không nên cai sữa về mùa hè nóng nực, trẻ kém ăn.

Không nên cai sữa đột ngột dễ gây sang chấn tinh thần làm trẻ quấy khóc, biếng ăn.

Không cai sữa lúc trẻ bị ốm, nhất là khi bị tiêu chảy vì thức ăn thay thế trẻ chưa thích nghi được càng làm rối loạn tiêu hoá, dễ gây hậu quả suy dinh dưỡng.

Sau khi cai sữa, cần có các chính sách ăn thay thế bảo đảm đủ chất cho trẻ, nhất là chất đạm (thịt, cá, trứng, sữa, đậu đỗ...), chất béo (dầu, mỡ) và các loại rau, quả...

Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, phù hợp nhất đối với trẻ, vì trong sữa mẹ có đủ năng lượng và chất dinh dưỡng cần phải có như đạm, đường, mỡ, vitamin và muối khoáng với tỷ lệ thích hợp cho sự hấp thụ và phát triển cơ thể trẻ.  Bú mẹ, trẻ sẽ lớn nhanh, phòng được suy dinh dưỡng.

Sữa mẹ chứa nhiều chất kháng khuẩn, nâng cao cường sức đề kháng cho trẻ, chống các bệnh đường ruột và bệnh nhiễm khuẩn. Trong sữa mẹ có những nhân tố bảo vệ cơ thể trẻ mà không 1 thức ăn nào có thể thay thế được. Do tác dụng kháng khuẩn của sữa mẹ nên trẻ được bú sữa mẹ sẽ ít mắc bệnh.

Trẻ bú mẹ ít bị dị ứng, eczema như ăn sữa bò.

Cho con bú sữa mẹ sẽ thuận lợi và kinh tế vì không phụ thuộc về giờ giấc, không cần phải đun nấu, dụng cụ pha chế. Trẻ bú sữa mẹ sẽ kinh tế hơn nhiều vì sữa mẹ không mất tiền mua. Khi người mẹ ăn uống đầy đủ, tinh thần thoả thích sẽ có đủ sữa cho con bú.

Nuôi con bằng sữa mẹ có điều kiện gắn bó mẹ con, người mẹ có không ít thời gian sắp gũi tự nhiên, đó là nhân tố tâm lý nhu yếu giúp cho việc phát triển hài hoà của đứa trẻ.

Cho con bú góp phần hạn chế sinh đẻ và giảm tỷ lệ ung thư vú.

Cách cho con bú

Nhiều bà mẹ sau lúc sinh chỉ thường cho con bú lúc căng sữa, người ta thường quen gọi là xuống sữa, như vậy là không đúng, càng làm sữa xuống chậm và dễ bị mất sữa. Tốt nhất, ngay sau lúc sinh trong vòng nửa giờ đầu người mẹ nên cho trẻ bú. Bú càng sớm càng tốt. Vì sữa mẹ tiết ra theo phản xạ, bú sớm có tác dụng kích thích bài tiết sữa sớm. Trẻ được bú sữa non sẽ phòng bệnh được tốt. Trẻ bú có tác dụng co hồi tử cung và cầm máu cho người mẹ sau đẻ.

Số lần cho trẻ bú không gò bó theo giờ giấc mà tuỳ thuộc vào yêu cầu của trẻ. Ban đêm vẫn có thể cho trẻ bú ví dụ trẻ khóc đòi ăn. Ở những bà mẹ ít sữa, nên cho trẻ bú nhiều để kích thích bài tiết sữa tốt hơn.

Khi cho trẻ bú, người mẹ ở tư thế thoải mái, có thể nằm hoặc ngồi cho bú, để toàn thân trẻ sát vào người mẹ: miệng trẻ ngậm sâu vào quầng đen bao quanh núm vú để động tác bú được rất tốt hơn. Thời gian cho bú tuỳ theo đứa trẻ. Cho trẻ bú đến lúc trẻ no, tự rời vú mẹ. Sau khi bú xong 1 bên, nếu như trẻ chưa đủ no thì chuyển sang vú bên kia.

Cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Khi trẻ bị bệnh, ngay cả lúc trẻ bị tiêu chảy, vẫn tiếp diễn cho trẻ bú. Trẻ đẻ non yếu không bú mẹ được, hoặc trường hợp mẹ bị ốm nặng, bị mắc 1 số bệnh không cho trẻ bú được, cần vắt sữa cho trẻ ăn bằng cốc.

Nên cho trẻ bú kéo dài 24 tháng hoặc có thể lâu hơn, không cai sữa cho trẻ trước 12 tháng. Khi trẻ 6 tháng tuổi cần kết hợp cho ăn thức ăn bổ xung theo nguyên tắc từ lỏng tới đặc, từ ít tới nhiều.

 Người mẹ cho con bú cần ăn uống đủ chất.
Bảo vệ nguồn sữa mẹ

Muốn có sữa cho con bú thì người mẹ ngay trong thời kỳ có thai cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, có chính sách nghỉ ngơi, lao động hợp lý, tinh thần thoải mái, giúp người mẹ nâng cao cân rất tốt (10-12 kg), đó là nguồn dự trữ mỡ để sản xuất sữa sau lúc sinh.

Khi cho con bú, điều đầu tiên cần phải để ý là người mẹ cần phải ăn đủ, uống đủ, ngủ đủ giấc. Khẩu phần ăn cần cao hơn mức bình thường. Hàng ngày ăn thêm vài bát cơm, một chút thịt, cá, trứng hoặc một ít rau đậu. Nên ăn thêm quả chín để có đủ vitamin. Các món ăn cổ truyền như cháo chân giò gạo nếp, ý dĩ hoặc vừng rang muối giã nhỏ ăn với xôi có tác dụng kích thích bài tiết sữa. Nên hạn chế các thức ăn gia vị như ớt, hành, tỏi vì nó qua sữa gây mùi khó chịu, trẻ dễ bỏ bú.

Khi cho con bú, nên hạn chế sử dụng thuốc vì một số thuốc có thể qua sữa gây ngộ độc cho trẻ và làm giảm tiết sữa.

Người mẹ cho con bú nên uống nhiều nước đặc biệt cháo, nước quả, sữa... (mỗi ngày khoảng 1,5 – hai lít).

Vì sữa mẹ được tiết theo cơ chế phản xạ, do vậy tinh thần của người mẹ phải thoải mái, tự tin tránh những căng thẳng, buồn phiền, lo âu, mất ngủ. Chế độ lao động nghỉ ngơi sau khi sinh đẻ có ảnh hưởng tới bài tiết sữa.

Để phòng chống suy dinh dưỡng và bộ phận chống bệnh cho trẻ, các bà mẹ cần thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ.   

BS.Nguyễn Văn Tiến

Vận động sau sinh nên thế nào?

Sau đẻ, nhiều phụ nữ đối diện với những biến đổi cơ thể: mập hơn, cơ bắp hình như nhão hơn, có hiện tượng các vết sắc tố trên bụng… Có nhiều phương án để lấy lại vóc dáng như trước khi có thai và phòng ngừa những biến cố của thời kỳ sau đẻ, trong đó vận động thể chất có vai trò quan trọng.

Vận động sau đẻ có lợi ích gì?

Sau đẻ, phụ nữ chưa nên vận động với cường độ nặng nhưng để ý đến những vận động thích hợp lại là điều rất cần thiết vì những ích lợi đã được xác định: Giảm tỷ lệ đau lưng – Giúp nâng cao thêm tâm lý hăng hái và vui sống - Giảm stress – Cải thiện khí chất - Giảm táo bón, tránh bí đái - Phục hồi sức mạnh cơ bắp và cải thiện trạng thái tim mạch - Làm cho cơ bụng trở lại săn chắc - Giúp bộ phận ngừa và phục hồi sớm trạng thái trầm cảm, tránh nguy cơ bị viêm tắc tĩnh mạch sâu, nghẽn tắc mạch phổi - Thời gian hồi phục sau đẻ nhanh hơn.

Mỗi ngày nên tập bao lâu?

Với phần to phụ nữ khỏe mạnh thì sau đẻ nên tập thể dục ít nhất 150 phút mỗi tuần với mức độ vừa phải (đi bộ nhanh) nhưng có thể chia nhỏ ra mỗi ngày, từ 10 - 20 phút và chú ý đến những hướng dẫn sau: Có thời gian khởi động – Bắt đầu từ từ và tăng dần – Tránh tập quá sức tới mức mỏi mệt – Uống nhiều nước – Mang áo nâng ngực.

Một chuyên gia về vận động lúc có thai và sau đẻ, bác sĩ James Clapp đã đưa ra những lời khuyên về vận động cho 6 tuần lễ đầu sau đẻ:  Vận động từ 3 lần trở lên mỗi tuần – Khi vận động cần cảm thấy dễ chịu và tăng cảm giác vui sống – Không bị đau hay chảy máu lúc vận động – Cần uống nhiều nước – Nghỉ ngơi đủ là một đề nghị bắt buộc.

Lưu ý: Nếu thấy ra máu sau buổi tập, nên nghỉ vài ngày rồi tập lại ở mức độ nhẹ hơn. Sau đẻ, mọi dây chằng trong cơ thể còn lỏng lẻo nên dễ bị bong gân hay giãn dây chằng.

Nếu cảm thấy chóng mặt, muốn ngất xỉu, khó thở, trống ngực, khó bước đi, nhìn mờ thì cần ngưng tập ngay và gặp thầy thuốc.  

Các loại vận động sau đẻ

Trừ những phụ nữ bị băng huyết hay sinh khó, thì sau lúc sinh 6 giờ đã có thể bắt đầu đi bộ nhẹ nhàng, thực hành những động tác nâng mông ở tư thế nằm, chuyển động nhẹ nhàng gót chân và cổ chân (nhấc lên xuống, quay vòng). Nếu không có chống chỉ định (vết mổ chưa lành tốt), hoàn toàn có thể Tiến hành tập bụng vào khoảng 6 tuần sau đẻ/sau mổ, thậm chí có thể Tiến hành sớm hơn, khoảng 3 tuần sau đẻ với một số người.

Khi đã qua 6 tuần thì có thể trở lại với những bài tập như trước lúc có thai nhưng với mức độ tăng dần và Quan tâm tới những đáp ứng chủ quan và khách quan tại những động tác tập vì phần lớn những biến đổi sinh lý và hình thái có thể đã bộc lộ rõ nhất trong 4-6 tuần sau đẻ nhưng hệ thống cơ, gân (dây chằng) và khớp chỉ hoàn toàn phục hồi như trạng thái trước đẻ sau ít nhất 9-12 tháng do đó 6 tháng đầu rất thiết yếu và cần có chương trình tập phù hợp phù hợp với thể chất của mỗi cá thể nhằm phục hồi tại mức tối ưu.   

Một số động tác cần cho phụ nữ sau đẻ

Phần lớn những biến đổi sinh lý và hình thái có thể đã bộc lộ rõ nhất trong 4-6 tuần sau đẻ nhưng hệ thống cơ, gân (dây chằng) và khớp chỉ hoàn toàn phục hồi như trạng thái trước đẻ sau ít nhất 9-12 tháng do đó 6 tháng đầu rất thiết yếu và cần có chương trình tập phù hợp phù hợp với thể chất của mỗi cá thể nhằm phục hồi tại mức tối ưu.

Nằm ngửa và ngồi dậy rất tốt để giúp bụng nhỏ lại nhanh. Nằm ngửa, gấp gối và đặt bàn chân trên sàn. Cũng có thể đặt bàn chân lên ghế tựa, cẳng chân vuông góc với cổ chân. Đặt hai tay sau gáy, hít vào từ từ, nhấc đầu và vai lên khỏi mặt sàn trong khi co các cơ bụng. Tự nâng mình lên tới mức tối đa rồi lại nằm xuống. Lặp lại động tác nhiều lần và tăng dần theo thời gian.

Để luyện tập nhóm cơ tại bụng dưới, nằm ngửa, 2 cẳng chân gấp nhưng bàn chân để sát mông. Hít vào trong khi nâng từ từ hông và tiểu khung để mông nâng lên khỏi mặt sàn. Thở ra và từ từ hạ mông. Tập nhiều lần theo khả năng. 

Không kiểm soát được tiểu tiện (bí đái hay són đái) thường gặp sau đẻ do các cấu trúc đều bị giãn, đó là lí do để thực hành bài tập Kegel (nhằm tăng sức mạnh cho nhóm cơ sàn chậu và thuận lợi cho các cơ kiểm soát tiểu tiện): Co thắt các cơ âm đạo giống như khi đang đi tiểu thì dừng lại. Giữ yên 5-10 giây mỗi lần co thắt, làm động tác co thắt tương tự từ 10-20 lần và 3 -5 lần mỗi ngày. Có thể làm động tác này bất cứ lúc nào, ở đâu và không ai nhìn thấy.

Phụ nữ đã từng được mổ lấy thai có thể trở lại những vận động như trước lúc đẻ sớm hơn nhưng do thầy thuốc quyết định. Có thể phải sau từ 2-6 tháng phụ nữ mới cảm thấy hoàn toàn hồi phục và trở lại với vóc dáng như trước. 

Vận động và cho con bú

Vận động không tác động xấu đến lượng hay thành phần sữa mẹ cũng như không ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất của trẻ đang bú mẹ. Tuy nhiên, 1 số nghiên cứu cho rằng vận động thể chất cường độ cao có thể gây tích tụ lactic acid tại sữa làm cho sữa có vị chua mà trẻ có thể không thích (trở nên quấy khóc hơn). Nếu cho con bú thì có thể phòng ngừa sự cố tiềm ẩn này bằng cách vận động vừa phải và uống nhiều nước trong và sau khi vận động. Nếu như vận động với cường độ nặng hơn ngay trong những tháng trước nhất cho con bú thì nên cho bú trước hay vắt sữa vào bình để cho trẻ bú trước lúc vận động, làm tương tự cũng giúp cho người phụ nữ dễ chịu, tha hồ hơn khi vận động hoặc bỏ đi phần sữa đã tiết ra tại 30 phút sau khi vận động. Sau 4 - 5 tháng cho bú thì vận động thể chất ít có tác động đến sữa mẹ vì phần lớn sữa mẹ được tiết ra vào khi cho bú. 

BS. Xuân Anh